Quản lý của Nhà nước đối với hoạt động đầu tư kinh doanh bất động sản (P2)

c) Quản lý về đất đai

Nhà nước phải đóng vai trò chính trong việc hình thành chính sách đất đai và các nguyên tắc của hệ thống quản lý đất đai bao gồm pháp luật đất đai và pháp luật liên quan đến đất đai. Trong công việc này, Nhà nước xác định một số nội dung chủ yếu: Sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước, vị trí của cơ quan đăng ký đất đai, vai trò của lĩnh vực công và tư nhân, quản lý các tài liệu địa chính, quản lý nguồn nhân lực, nghiên cứu, giáo dục và đào tạo, trợ giúp về chuyên gia tư vấn và kỹ thuật, hợp tác quốc tế.

Nội dung quản lý nhà nước về đất đai trong đầu tư BĐS:

–     Điều tra khảo sát đo đạc lập bản đồ địa chính và định giá các loại đất,

–     Quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất,

–     Giao đất, cho thuê đất,

–     Thu hồi đất để xây dựng dự án,

Đăng ký và cấp giấy chứng nhận QSDĐ,

–     Làm thủ tục chuyển QSDĐ,

–     Thanh tra giải quyết các tranh chấp, giải quyết khiếu nại tố cáo và xử lý các vi phạm về đất đai.

Quản lý đất đai bao gồm những chức năng bao hàm những quy tắc cho việc sử dụng và phát triển đất đai cùng với những lợi nhuận thu được từ đất (thông qua bán, cho thuê, hoặc thuế) và giải quyết những tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu và QSDĐ. Quản lý đất đai liên quan đến cả hai đối tượng: Đất công và đất tư, (gồm đo đạc đất đai, đăng ký đất đai, định giá đất, giám sát và quản lý sử dụng đất đai, cơ sở hạ tầng cho công tác quản lý). Quản lý đất đai là quá trình lưu giữ và cập nhật những thông tin về sở hữu, giá trị sử dụng đất và các nguồn thông tin liên quan đến đất đai. Vì vậy quản lý đất đai bao gồm việc xác định hoặc điều chỉnh các quyền và các thuộc tính khác của đất, điều tra mô tả, những tài liệu chi tiết về thửa đất và cung cấp những thông tin về đất đai liên quan đến TTBĐS.

Quản lý đất đai đòi hỏi phải có những hiểu biết, những hiểu biết phụ thuộc vào thông tin và thông tin lại phụ thuộc vào phương pháp thu thập, cách xử lý chúng trên cơ sở công nghệ thông tin. Thông tin đất đai là nguồn thông tin quan trọng và đắt giá, vì vậy phải được quản lý sử dụng có hiệu quả tối đa lợi ích tiềm tàng của nó. Quản lý thông tin đất đai bao gồm: Xác định những yêu cầu của Nhà nước và cộng đồng nói chung về thông tin liên quan đến đất đai, kiểm tra sao cho thông tin liên quan đến đất đai được sử dụng thường xuyên trong quá trình quyết định công việc, dòng thông tin từ người sản xuất đến người sử dụng được thông suốt, phát triển các chính sách cho việc xác định các ưu tiên, cung cấp các nguồn lực cần thiết, hỗ trợ cho các hoạt động và thiết lập các chuẩn cho việc trình bày cũng như các phương pháp kiểm tra giám sát.

d) Quản lý về quy hoạch, kế hoạch

Quy hoạch, kế hoạch phát triển TTBĐS là định hướng chiến lược và cụ thể hoá các định hướng đó. Chúng chính là một trong những công cụ chủ yếu trong quản lý của Nhà nước về BĐS, là những căn cứ, cơ sở quan trọng cho sự phát triển của TTBĐS.

Theo Luật Xây dựng, quy hoạch chung phải đảm bảo xác định tổng mặt bằng khu đất sử dụng theo quy mô dân số của từng giai đoạn quy hoạch, mật độ dân số, hệ số sử dụng đất và các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật khác. Quy hoạch chi tiết phải xác định được các nội dung: Xác định mặt bằng, diện tích xây dựng các loại công trình trong khu vực lập quy hoạch chi tiết, xác định chỉ giới đường đỏ, chỉ giới xây dựng… thông qua quy hoạch, kế hoạch, hệ thống BĐS và TTBĐS mới được đảm bảo tính thống nhất, tính khả thi và tính hiệu quả.